Bà chúa kho đất Thành Nam

rong số các bà Chúa Kho, xuất hiện muộn nhất là bà chúa Kho ở thành Nam (tên gọi khác của Nam Định thời xưa) với hiệu là Giám thương công chúa.
Quân triều đình và quân Pháp giao chiến.
Quân triều đình và quân Pháp giao chiến.
Trái với suy nghĩ của nhiều người, ngoại trừ bà chúa Kho được thờ ở Cổ Mễ (Bắc Ninh) là được biết đến nhiều nhất thì còn có nhiều bà Chúa Kho khác được thờ ở một số đền miếu khác nhau, có bà là nhân thần, là người có thật như bà Lý Châu Nương (Quản chưởng quốc khố Công chúa) được thờ ở đình Giảng Võ (Hà Nội) nhưng cũng có bà là thiên thần như bà Bạch Ngọc (Chưởng Khố công chúa) thờ ở đền Am được thiên đình sai giáng trần làm thần núi Tượng ở phía Bắc thành Thăng Long…

Trong số các bà Chúa Kho, xuất hiện muộn nhất là bà chúa Kho ở thành Nam (tên gọi khác của Nam Định thời xưa) với hiệu là Giám thương công chúa, cuộc đời và công tích của bà nằm trong thời điểm đau thương của đất nước trước họa xâm lăng của giặc Pháp. Bà tên thật là Nguyễn Thị Trinh, con gái quan Vệ úy Nguyễn Kế Hưng coi kho lương ở thành Nam Định, sau kiêm nhiệm cả việc coi giữ kho khí giới. Bà là người tính tình cương nghị, sức khỏe hơn người, từ nhỏ đã ham tập võ nghệ, ngoài 20 tuổi không chịu lấy chồng mà chỉ thích múa gươm luyện đao và giúp cha trong việc quản lý lương thực, khí giới.
Cuối năm 1873, quân Pháp mở rộng tấn công xâm lược ra miền Bắc, lần lượt chiếm được các thành Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Phủ Lý, Ninh Bình… Ngày 4/12/1873 chúng dùng thuyền theo đường thủy tiến đánh Nam Định, trên đường đi bị quân triều đình và dân binh chặn đánh quyết liệt trên các sông Đáy, sông Đào nhưng nhờ lực lượng mạnh, có ưu thế vượt trội về vũ khí nên quân Pháp vẫn đến được Nam Định. Ngày 10/12/1873 tướng Gácniê chỉ huy quân bắt đầu nổ súng tấn công thành Nam Định nhưng vấp phải sự chống trả dữ dội của tuyến bảo vệ vòng ngoài của thành nên quân Pháp không tiến lên được đành phải rút lui tìm cách khác. Ngày hôm sau chúng tập chung hỏa lực tấn công dồn dập vào một phía chứ không đánh phá bốn cổng thành như trước nữa, mặt khác dùng các cây gỗ bắc làm cầu vượt qua bãi chông sắt của quân ta dưới chân thành, rồi dùng thang áp vào tường leo lên đánh chiếm. Cổng thành bị phá, giặc Pháp tràn vào trong, quân ta cầm cự với chúng trên đường phố rồi co cụm lại một số địa điểm chính như phủ Tổng đốc, Kỳ đài (Cột Cờ)…

Bấy giờ bà Nguyễn Thị Trinh được giao nhiệm vụ canh giữ kho quân lương, khi nghe tin cha đang bị giặc vây tại Cột Cờ bèn truyền cho một toán thuộc hạ chốt chặt các cửa kho, sau đó dẫn toán quân còn lại tiến ra trợ chiến quyết tử thủ giữ vững lá cờ Nam triều trên đỉnh Kỳ đài. Khi Nguyễn Thị Trinh ra đến nơi thì cha bà đã tử thương vì mất máu quá nhiều, những người lính còn lại cùng toán quân tiếp viện cùng nhau chống cự đến hơi thở cuối cùng, tất cả họ đều trúng đạn ngã xuống bậc thềm Cột Cờ, đáp đền nợ nước.
Quân triều đình và quân Pháp giao chiến.
Thành Nam Định thất thủ giờ Mùi ngày 21 tháng Mười năm Quý  Dậu (11/12/1873). Nhiều tấm gương hy sinh anh dũng trong trận chiến bảo vệ tòa thành này đã được sử sách ghi lại như Đặng Huy Trinh, Trần Vĩnh Cát, Ngô Lý Diện… và không thể không nhắc đến Nguyễn Thị Trinh, bà mất khi mới 21 tuổi. Nhân dân đã tìm được thi thể bà và chôn cất ngay tại nơi hy sinh, phía đông của Cột Cờ.

Sau khi Hòa ước giữa triều Nguyễn và Pháp được ký ngày 15/3/1874, quân Pháp phải rút khỏi Nam Định, vua Tự Đức xét công lao chống giặc đã phong tặng những người tiết nghĩa trong đó có Nguyễn Thị Trinh, bà được phong là “Giám thương Công chúa” (Công chúa coi kho). Triều đình còn cho lập đền thờ bà ngay dưới chân Cột Cờ (nên được gọi là đền Cột Cờ) và miếu Bản Tỉnh để thờ những nghĩa sĩ đã hi sinh vì nước; dân địa phương còn tôn bà làm Đương cảnh Thành hoàng - Bản xứ  Thổ thần, họ còn gọi Nguyễn Thị Trinh là “bà Chúa Cột Cờ”. Tại đền có câu đối ca ngợi:

Nhất niệm hiếu trung như nhật nguyệt
Thiên thu phần mộ lẫm uy danh.

Nghĩa là:

Trung hiếu một niềm ngời nhật nguyệt
Mộ phần ngàn thuở khét uy danh.

Đến đời vua Thành Thái (1889-1901), triều đình gia phong cho Nguyễn Thị Trinh thêm mỹ  tự là “Tiết liệt Anh phong” với duệ hiệu đầy đủ là: “Tiết liệt Anh phong - Giám thương Công chúa”. Ngoài ra còn phong làm thần gọi là “Linh phù, Dực bảo trung hưng tôn thần”.

Sau này khi Pháp đã đặt ách đô hộ lên toàn lãnh thổ nước ta, đền thờ “bà chúa Kho” Nguyễn Thị Trinh bị chúng phá hủy nhiều lần, cuối cùng để che mắt giặc, người dân khi xây lại nơi thờ đã đổi tên thành miếu Bạch Hoa nói đây là nơi thờ Bạch Hoa - một thị nữ của bà chúa Liễu Hạnh trong tín ngưỡng đạo Mẫu, tuy nhiên các hoành phi, câu đối đều là của đền Cột Cờ cũ có nội dung ca ngợi bà Nguyễn Thị Trinh.

Ngoài ngôi đền thờ dưới chân Cột Cờ được dựng lại sau này, tại thành Nam Định (nay là thành phố Nam Định) còn có một số nơi thờ bà Chúa Kho - Giám thương công chúa Nguyễn Thị Trinh như đền Nguyên Thương ở phố Hàng Sắt (phường Nguyễn Du), đền Bồng Lai ở đường Trần Hưng Đạo (phường Bà Triệu). Tại đây cũng đều có các câu đối ca ngợi nữ anh hùng thành Nam, như:

Dữ phụ đồng cừu kim diệc hãn
Tồn lương vệ quốc cổ do hy.

Nghĩa là:

Cùng cha chung mối thù, nay cũng hiếm
Giữ lương vì nước, trước đâu nhiều
.

Hay như câu:

Huyền mặc vô ngôn, hoàng thượng biền mông tư Bắc khuyết
Tinh thần bất tử, nữ trung anh kiệt chấn Nam thiên.

Nghĩa là:

Lặng lẽ không lời, hoàng thượng chở che riêng cửa Bắc
Tinh thần bất tử, nữ trung anh kiệt động trời Nam.
Tags: ,

About author

A lotus for you, the Buddha to be