• Trang chủ
  • Subscribe to my RSS
  • Blogger
  • Facebook
  • blog. Hà Nội
  • Home
  • Diệu Hiền
    • Giới Thiệu
    • Ảnh
    • Ảnh đẹp
  • Phật Học
    • Bước đầu học Phật
    • Kinh-Luật-Luận
      • Kinh điển
      • Luật
      • Luận
      • Category
    • Thiền tông
    • Mật tông
    • Nghi Lễ
  • Đạo Mẫu
    • Vua Cha
    • Tam toà Thánh Mẫu
    • Ngũ Vị Tôn Quan
    • Thập Nhị Chầu Bà
    • Tứ phủ Ông Hoàng
    • Tứ Phủ Thánh Cô
    • tuphuthanhcau
    • Chư vị Trần Triều
    • Bài viết...
  • Khoa học huyền bí
    • Tử vi
    • Tướng pháp
    • Phong Thủy
  • Lịch sử
    • Đức Phật
    • Việt Nam
    • Nhân vật- Sự kiện
  • Tự viện
  • Thiện nguyện
  • Thư Viện
    • Sách
    • Pháp Âm
    • Ảnh Phật
    • Khác
  • Ẩm thực chay
You are here : Home »
Hiển thị các bài đăng có nhãn triethoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Chu Mạnh Trinh tiên sinh đã gọi Cực lạc quốc là Lạc phố, tức là phố Cực lạc hay là phố An lạc. Câu cuối cùng của Bài tựa Truyện Kiều, tiên sinh viết: “Bóng hoàn bội tưởng ra vào Lạc phố” (bản dịch của Đoàn Tư Thuật). Không phải chỉ riêng tiên sinh mà ngay cả chúng ta đang sống ở cõi Ta-bà cũng đều cố gắng tu tâm dưỡng tánh, không làm việc ác, siêng làm điều thiện; cầu mong sao khi rời cõi tạm này sẽ được vãng sanh về Tây phương Cực lạc hay theo cách gọi rất hay của Chu Mạnh Trinh là Lạc phố.
Chưa biết ngày nào chúng ta về Lạc phố. Ngày ấy, không ai biết trước được. Lẽ thường, ai cũng muốn được cư trú ở cõi nước an lạc, hạnh phúc và tự do. Chúng ta rất muốn xa rời cái bờ mê muội của sự ghen tỵ, kỳ thị, hận thù và sầu khổ để tới bờ của từ bi, hỷ xả, của an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi. Đức Thế Tôn đã hiến tặng cho chúng ta một pháp tu rất mầu nhiệm, đó là Bố thí Ba-la-mật. Chúng ta có thể thực tập pháp tu này để vượt qua bờ bên kia ngay trong đời sống hàng ngày, xây dựng một phố an lạc ngay bây giờ, ở đây, nơi chúng ta đang sống, bằng pháp tu này. Bố thí Ba-la-mật là  pháp tu đầu tiên trong Lục độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ).
PHẬT HỌC.jpg
Hạnh bố thí là cúng dường, hiến tặng hay san sẻ cho mọi người một điều gì đó như vật chất, tiền bạc (tài thí), những lời khuyên hướng thiện, những lời nói khai tâm mở trí (pháp thí) và sự an ủi, chở che, giúp vượt qua nỗi cô đơn, sợ hãi (vô úy thí). Trong đó, giúp người chuyển hóa được khổ đau và sợ hãi là pháp tu cao quý nhất trong các loại bố thí. Thực hành sự cho đi mà nhẹ nhàng, thảnh thơi, chẳng luyến lưu, không vướng bận bất cứ điều gì thì đạt đến Bố thí Ba-la-mật, xả ly tuyệt đối, đến bờ kia.
Khi ta đem lòng giận một ai đó thì ta đau khổ. Nếu ta thực tập bố thí, buông bỏ sân hận thì niềm sân hận trong ta được chuyển hóa và ta vượt sang được bờ bên kia tức khắc; bờ của vô sân, an lạc, hạnh phúc và từ bi. Ta biết trong chiều sâu tâm thức của ta đều có hạt giống của sự độ lượng, sẵn lòng muốn hiến tặng, đem cho người khác niềm vui, niềm hạnh phúc. Những hạt giống và tâm hành này luôn có mặt trong ta.
Sự bố thí xem ra cũng đơn giản và tự nhiên, phát xuất từ cái tâm thương yêu vô điều kiện. Người mới thực tập việc bố thí, cúng dường, hiến tặng thì hay ngại được bố thí, tức là nhận quà của ai đó. Thế nhưng, tương quan giữa cho và nhận là một điều lý thú, cho tức là nhận mà nhận tức là cho; sự thay đổi ngôi vị này khiến cho ta phải vắt óc suy gẫm. Người phương Tây nói “Give and take” cũng hàm nghĩa như vậy.
Có một lần tôi được đọc một câu chuyện viết về thầy Thiên Ân của một tác giả nữ, cô này là đệ tử của thầy. Khi thầy Thiên Ân sắp mất, cô thường hay đến thăm thầy và cô rất buồn khi chứng kiến cái cảnh thầy đau đớn vì bệnh tật. Cô suy nghĩ hoài mà không biết làm gì cho thầy vui, để thầy bớt đau. Một hôm khi cô hỏi: “Thầy muốn con làm gì?” thì thầy bảo cô mua cho thầy chiếc mũ đội cho ấm đầu. Hôm đó là ngày cuối tuần, đã 7 giờ tối, các tiệm lớn đều đóng cửa, nhưng thầy muốn cô đi mua ngay. Cô đành chạy ra một tiệm nhỏ lúc đó còn mở cửa mua ngay chiếc mũ đem về. Thầy nhận và tỏ vẻ rất hoan hỷ. Còn cô thì khỏi phải nói, rất vui vì làm được một việc vừa lòng thầy.
Sau đó ít lâu thầy qua đời. Khi cô tới dọn dẹp phòng thầy, cô thấy trong tủ thầy có cả tá mũ đủ loại rất đẹp. Chiếc mũ cô mua biếu thầy hôm nọ thuộc loại tầm thường nhất. Cô chợt tỉnh ra. Tưởng là cô đã làm cho thầy vui. Cô là người cúng dường, là người làm phước. Thực ra, chính thầy đã cho cô cơ hội để cô được vui một lần cuối với thầy, để cô được phước báu. Vậy là chính cô mới là người nhận, người mang ơn. Từ câu chuyện đó, cô nhận biết trong cuộc đời nghĩ tới cùng nhiều khi người cho lại chính là người nhận. Người nhận lại là người cho. Không biết ai là người cho ai và ai phải cám ơn ai. Thôi thì cứ cám ơn đời và cám ơn nhau vậy.
Tôi rất thích câu chuyện đó, lâu lâu đem ra đọc đi đọc lại đến nhập tâm. Nhưng trong đời sống hàng ngày tôi vẫn thích làm cho người khác, chứ không thích ai làm cho mình điều gì. Khiến cho những đứa em của tôi phải phàn  nàn vì chúng muốn giúp cho tôi cái gì tôi cũng tìm cách chối từ, bởi một lý do là tôi còn đang tự lo liệu được và không muốn mang ơn ai, dù người đó là những đứa em ruột thịt của mình. Biết rằng nhiệm vụ làm anh cả đã giúp đỡ cho các em rất nhiều khi chúng chưa trưởng thành. Bây giờ các em đã ăn nên làm ra, chúng rất muốn đền đáp cho anh một chút, nhưng bị anh từ chối và chúng buộc lòng phải thốt lên: “Anh đã biết cho thì phải biết nhận chứ? Nếu không biết nhận thì chưa chắc đã biết cho!”.
Tôi tiếp tục biện hộ cho cái quan điểm của mình, nhưng câu nói của đứa em in chặt vào trong đầu của tôi: “Không biết nhận thì cũng không biết cho”. Tôi cũng đã từng suy nghĩ chuyện phân biệt cho và nhận chỉ là sản phẩm của “cái tôi” đầy tự ái, mà thực ra cả hai chỉ là một. “Có đi có lại mới toại lòng nhau”, “Give and take”, cho và nhận, nhận và cho; như là một bí quyết giao tiếp luân lưu tối thượng trên cõi đời này. Phải chăng cái “ngã” còn đứng ở đó đặt ra những chuyện “người cho kẻ nhận”, “kẻ có người không”, người trên kẻ dưới”… Mặc dầu kinh Phật đã dạy hạnh bố thí là hạnh đứng đầu của người con Phật. Bố thí theo tinh thần Bồ-tát thực hành Bố thí Ba-la-mật nghĩa là bố thí mà không thấy người bố thí, người tiếp nhận bố thí và vật bố thí, để không còn có người và ta, không còn tự ái, tự tôn hay tự ti. Vì khi còn phân biệt giữa người và ta tức là còn có “ngã”, còn nhị nguyên, còn tính toán hơn thiệt, còn có đi có lại, còn rất là đời, chưa đi vào con đường đạo. Tất cả những cái thấy, những cảm nhận, những ý nghĩ, những quán chiếu, những suy tư đó đầy ắp trong đầu. Tôi hiểu hết mọi sự bằng trí óc nhưng chưa thấu suốt bằng con tim để ứng xử mọi việc tự nhiên như hơi thở.
Đến khi lâm bệnh nằm viện cả tháng, đầu óc mịt mù, suy nghĩ rối tung, thân thể hoàn toàn bất lực. Tôi sống được là hoàn toàn nhờ vào sự giúp đỡ của mọi người. Tôi đã nhận rất nhiều từ ông bác sĩ phẫu thuật, cô y tá hàng ngày đến thay thuốc, đến bà dọn phòng và bao nhiêu người trợ giúp khác cho tôi được mau phục hồi. Tôi đã nhận nhiều từ các em tôi, từ họ hàng, bạn hữu thân thương; những giúp đỡ hữu hình và vô hình trợ lực cho tinh thần tôi khỏi bị sụp đổ. Tôi nhận từ những linh thiêng của đất trời ân huệ cho tâm tôi mở ra, bằng lòng đón nhận tất cả từ cái đau cho đến tận cùng là cái chết. Bệnh hoạn làm cho lực bất tòng tâm, làm tương lai dừng lại ở hiện tại, mọi dự tính đều tiêu tan, vì chính sự sống cũng đang bấp bênh, biến hóa khó lường. Trên bờ vực bấp bênh đó, cái “ngã” nín thở nằm yên đợi chờ. Rồi trong cái khoảnh khắc yên lặng vô biên ở bên trong cùng với những yêu thương chân thật bao bọc bên ngoài, được dẫn dắt bởi tuệ giác nên tâm trí bỗng bung ra khiến cái “tôi” chan hòa vào trong tất cả.
Câu chuyện của thầy Thiên Ân, câu nói của đứa em “không biết nhận thì làm sao biết cho” và những hiểu biết kinh Phật nói về hạnh bố thí cùng với những kinh nghiệm về cho và nhận thu thập bấy lâu trong cuộc đời, bỗng hiện ra tia sáng của sự khai mở. Tôi như một tù nhân sau bao nhiêu năm nằm trong ngục tối, được thấy ánh sáng chói lòa và vạn vật rạng rỡ của một thế giới con người tự do.
Khi ra khỏi viện về nhà, mọi người đến thăm, tôi không còn thắc mắc khi nhận quà, cám ơn mà không lúng túng. Chúng ta có thể gặp lại nhau, nhưng cũng có thể không còn gặp lại nhau nữa. Biết vậy sẽ không còn ngại ngùng khi nhận và mong mỏi khi cho. Ân nghĩa nguyện xin đền đáp, nhưng không phải tìm cho được ân nhân cũ để trả nghĩa, mà luôn giữ đầy ắp tấm lòng biết ơn để luân lưu những ân huệ nhận được từ người này sang cho người khác, để chuyển hóa những đắng cay của sân hận nhận được thành ngọt ngào của hỷ xả và tha thứ đem hiến tặng người kế bên mà không cần ghi vào trong tâm sổ sách tuổi tên người.
Lúc này đây, tôi không làm được gì cho ai, nhưng sao tôi vẫn cảm thấy mình có rất nhiều thứ để cho, phải chăng vì tôi nhận được từ đất trời, từ mọi người xung quanh rất nhiều mỗi ngày, nhận được nhiều thì có rất nhiều cái để cho đi. Vì tôi chỉ đứng đó để chuyển hóa luân lưu đi tất cả sau khi đã thụ hưởng vừa đủ cho phần mình. Rồi đến lúc thấy mình không còn đứng đó để nhận hay cho, hay để thấy vui trong lòng, mà chỉ thấy một sự luân lưu nhẹ nhàng không ngừng, tự nhiên như bốn mùa thay đổi, như lẽ vô thường của vạn vật.
Tôi bỗng hiểu tại sao trong sáu pháp Lục độ Ba-la-mật, bố thí là hạnh đứng đầu. Khi đã thực hành bố thí và hiểu ra chân lý thì ta sẽ có được quyền tự do căn bản và tối thượng thực sự của con người; có được an lạc và hạnh phúc vô biên ở cõi Lạc phố trần gian này. 

Lê Đàn
Không đi qua bão giông làm sao thấu hiểu được lòng nhau? Cái đẹp đâu còn ở nhụy sen ngát hương buổi sớm mai, cũng đâu phải chỉ ở trên cánh sen hồng như đôi má người con gái, cái đẹp nguyên thủy ấy kết tinh từ trong từng hạt sen. Vị đắng của tâm sen vì thế mà thành ngọt ngào, vì thế mà có thể giúp chúng ta dưỡng tâm an thần những đêm khuya khó ngủ.
Bầu trời như xanh hơn, nắng cũng vàng hơn không biết vì lẽ gì. Hai mùa mưa nắng làm nên tính nết của trời đất xứ này. Hạn hán và bão giông dường như là hai mặt đối lập trong một thể thống nhất khắt nghiệt. Miền Trung vào mùa lũ hứng chịu những cơn bão lật tung bao mái nhà, hàng loạt cây cổ thụ già nua trốc gốc nằm ngổn ngang giữa phố chợ. Cơn bão giá cả thị trường làm người ta khánh kiệt, cơn bão từ biển Đông phá tan nhà cửa, đường sá và thậm chí còn cướp đi không ít tính mạng con người. Và những lúc như thế này, người ta thấm thía thế nào là lá rách ít đùm lá rách nhiều.
Thật khó tìm được chiếc lá nào còn lành lặn, vẹn nguyên sau những ngày mưa to gió lớn. Nhưng trong cơn nguy khốn của đất trời, người ta tìm thấy nhiều, thật nhiều những tấm lòng phúc hậu, tràn đầy tình thân ái. Những sẻ chia trong lúc hoạn nạn từ những con người bình dị, lam lũ thường ngày với nhau chính là thứ nước cam lồ thực sự khiến người ta ngộ ra cuộc sống này vẫn còn đó vẹn nguyên tình người.
Con người sống với nhau bằng gì ngoài chữ tình? Mỗi người trong chúng ta khi sinh được trời đất phú cho một gương mặt, không ai giống ai, không ai lẫn vào ai. Rồi đến một lúc nào đó trong cuộc đời, khi soi vào lòng nhau, chúng ta chợt nhận ra một gương mặt chung quen thuộc, ấm áp, trìu mến. Gương mặt ấy vượt lên trên lòng ích kỷ thường ngày, vượt ra ngoài cái tôi bản ngã. Nó giúp chúng ta vững tin thêm một chút ở cuộc sống vốn dĩ nhiều khó khăn và đầy rẫy bất trắc. Nó thúc đẩy chúng ta xích lại gần với nhau và nói một cách khác nó làm cho chúng ta người hơn. Cũng như gương sen còn lại sau mùa vươn lên từ lòng sâu lầy lội tỏa hương thơm lan tỏa mặt hồ, gương mặt ấy đẹp một cách bền bĩ và nhẫn nại vì nó bén rể từ chính sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta.

Giông bão đi qua, năm tháng đi qua, chúng ta còn lại những gì ngoài gia đình, người thân, bạn bè? "Xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn", có đôi lúc chúng ta cảm thấy thật khó khăn để chấp nhận quy luật của tự nhiên. Ai cũng mong trời xanh mây trắng, cây đâm chồi hoa bung cánh. Ai cũng thích cuộc sống yên ả, thanh bình. Nhưng sen nở rồi thì sen tàn, giản dị chỉ có vậy thôi. Nhị sen thoảng hương thanh khiết rồi thì cũng rơi tơi tả trên mặt hồ như cát bụi trở về với cát bụi. Chúng ta nhớ những mùa yêu thương cũ khi xuân về hoa cải bạt ngàn bên nhánh sông quê. Chúng ta luyến tiếc những trinh nguyên của thuở ban đầu đầy lưu luyến, "...Lá sen vương vấn hương sen ngát/ Ấp ủ hai ta chút nhụy hồ...". Nụ sen hồng ấy đến mùa bung cánh mỏng theo gió về nơi cuối trời để lại đài sen trơ trọi và gương sen đương đầu với giông gió nắng mưa kết thành hạt để trở lại lòng hồ. Khi mưa thuận gió hòa, hạt sen ấy lại nở hoa cho lòng người thơm thảo.
Không đi qua bão giông làm sao thấu hiểu được lòng nhau? Cái đẹp đâu còn ở nhụy sen ngát hương buổi sớm mai, cũng đâu phải chỉ ở trên cánh sen hồng như đôi má người con gái, cái đẹp nguyên thủy ấy kết tinh từ trong từng hạt sen. Vị đắng của tâm sen vì thế mà thành ngọt ngào, vì thế mà có thể giúp chúng ta dưỡng tâm an thần những đêm khuya khó ngủ. Lẽ đời đôi lúc không thể chỉ hiểu mà ra, nhiều thứ không thể chỉ tính toán, suy nghĩ mà thành. Sen không phải là thầy ta, sen cũng không gọi ta là bạn, sen chỉ là sen thôi và mùa hè đến thì sen lại nở hoa.
Sen tàn cúc lại nở hoa...", ấy là vì tâm hồn của trời đất. Không phải mùa hạ chỉ có sen hay mùa thu chỉ có cúc, ấy là vì bốn mùa hoa nở mà đôi khi chúng ta không kịp nhận ra. Dù nắng hay mưa thì hoa vẫn nở, ngắm hoa cúc vàng ươm xin đừng nghĩ về sen vì mùa thu rồi sẽ qua nhanh như những cơn giông bão vậy.
Ở đây không có mùa thu nên cũng không có mùa đông mà chỉ có một mùa mưa gió. Khi bão giông người xứ này gồng mình lên chống bão. Khi đất trời qua cơn thịnh nộ, họ lại ngắm hoa nở trăng lên.  Tâm hồn chúng ta tự thuở bé thơ có bao giờ biết đòi hỏi, tâm hồn trẻ thơ chẳng phải là gương sáng soi đêm trăng rằm là gì (?).
Ngoài kia hoa cúc cứ vàng ươm, thậm chí không hề biết một chút sen vẫn còn sót lại.

Giác Ngộ - Hãy lang thang. Hãy đến với cuộc sống của mọi người. Hãy mở bung trái tim mình. Hãy mở toang cánh cửa của tâm hồn. Khi đó chúng ta sẽ thấy những cái “hợm hĩnh” của cái “tôi” tan biến mất. Cuộc sống này thật đẹp, nhưng một mình ta không đủ làm đẹp cho đời. Đời đẹp vì có người. Có mình có ta...

Tôi thích lang thang trên hè phố để ngắm nhìn những em bé đang tung tăng cắp sách đến trường.
Những khu chợ đông vui mà trật tự, đường phố thì khang trang và sạch sẽ.
Những người thợ mồ hôi nhễ nhại đang miệt mài với những công trình xây cất. Họ là những “vị thần sáng tạo” mà tôi yêu quý.
Tôi thích lang thang để ngắm nhìn cả những ông cảnh sát đang tận tụy điều khiển xe cộ cho mạch máu giao thông chuyển vận nhịp nhàng.
Những khu phố vắng vẻ trong những buổi chiều êm ả…có cả tiếng ve kêu như tiếng nhạc của Hè.
Những mùa Thu lá đổ.
Những ngày Đông gió thổi ù ù, lá rơi rơi…lá rơi …để những ngọn đèn trong nhà sao ấm cúng lạ thường khi những bữa cơm buổi tối của gia đình tụ hội.
Tôi thích lang thang vào cả những xóm thôn lao động để nghe tiếng bà mẹ ru con, tiếng võng đưa kẽo kẹt.
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi. (Ca dao)
Tôi thích lang thang cả vào những thôn bản đìu hiu để ngắm nhìn những làn khói lam mơ màng tỏa ra từ những mái nhà sàn, nhà tranh đơn sơ, những em bé, những cô gái Mường, Tày, Nùng, Mèo, Thái, Ra-đê …với nụ cười hoang vu, chân chất…không giống như những em bé, những cô gái “quá thông minh” như ở Paris, London, New York.
Tôi thích lang thang ở những công viên để ngắm nhìn những con bướm nhởn nhơ, những chú chim ca hát, những đóa hoa khoe mình trong nắng, những cụ già trầm tư, những người tản bộ và cả những cặp trai gái đang sánh bước bên nhau…lòng thầm mong họ yêu nhau mãi mãi để xây dựng lâu đài hạnh phúc.
Tôi thích lang thang vào những xóm chài để ngắm nhìn những giàn phơi lưới, ngư ông kéo cá, từng đoàn ghe chài ra vô chộn rộn, những con chó ngủ mơ màng trong bóng mát và các em bé thả diều. Cuộc sống ở đây mặn mà như gió biển và nổi trôi theo từng cơn bão, cơn mưa. Nhưng người ở đây kiên trì và gan lì như những hòn đá tảng.
Tôi còn thích lang thang ra ngoài hải đảo để một lần nhìn tận mắt “những cánh tay vươn dài của Mẹ Việt Nam ra Biển Đông”. Để một lần được chiêm ngưỡng những địa danh như Cái Bầu, Cái Bàn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hoàng Sa, Trường Sa, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Sơn, Phú Quốc... mà tôi được học từ thưở ấu thơ nhưng chưa một lần tới đó…để cảm phục những con người sao kiên trì, âm thầm, dũng cảm đối chọi với sóng gió, “sống ở đây, chết ở đây” đã vài ngàn năm để khẳng định mảnh đất này là của Lịch Sử Việt Nam và của Tổ Quốc Việt Nam .
Tôi thích lang thang vào cả những khu vườn để ngắm nhìn những hàng cau, những trái soài, trái sầu riêng, trái nhãn đong đưa theo gió …thật êm đềm…và là vị ngọt cho đời.
Tôi thích lang thang ngắm nhìn những cánh đồng lúa bạt ngàn để chứng kiến nỗi gian nan của bác nông phu đã “Vài ngàn năm đứng trên đất cày . Mình đồng da sắt không phai màu” (Phạm Duy)… của phụ nữ “một nắng hai sương”, đôi bàn tay chai cứng vì phèn vì nước…từ đó tôi chỉ mong “quốc thái dân an” và:
Lạy trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đun bếp. (Ca dao)
cho cô gái hát ca trên đồng, cho xóm làng mở hội sau những mùa gặt hái.
Tôi còn thích lang thang với tâm hồn của trẻ thơ để vào cả những ngôi chùa để ngắm nhìn mẹ già đang ngồi lần tràng hạt, sư cụ thung dung bên tách trà, các bà, các cô đang miệt mài công quả …từng bát canh, từng đĩa cơm chay…Ôi quý hóa làm sao những bàn tay đang “công năng” mà tu tập. Lục Tổ xưa kia chỉ nấu bếp mà thành đạo quả. Trong khói nhang như sương lam mờ tỏa, Phật ở trên cao Phật đứng nhìn. Chúng sinh an vui là chư Phật an vui. Chúng sinh bớt khổ là chư Phật toại nguyện.
Cuộc sống này quý báu vô vàn, Đức Phật dạy thế cho nên tôi không bao giờ có ý nghĩ hủy hoại cuộc sống. Tôi yêu mến cuộc sống của tôi và của mọi người.
Tôi còn muốn lang thang lên Cung Trời Đao Lợi là nơi trú ngụ của vua trời Đế Thích để nghe Bồ Tát Văn Thù thuyết pháp cho rất nhiều Hiền-Thánh và cũng là nơi Đức Phật đã hóa độ cho mẹ là Hoàng Hậu Ma Gia.
Tôi còn muốn lang thang lên Nước Cực Lạc của Phật A Di Đà để xem Ao Thất Bảo, đưa tay hứng hoa Mạn Đà La, hoa Mạn Thù Sa, lim rim tận hưởng những tiếng nhạc trời, những âm thanh vi diệu thoát ra từ làn gió thổi xuyên qua các hàng cây báu và lưới Trời Đế Thích và cũng để ngắm nhìn chúng sinh của quốc độ này lấy đãy đựng hoa thơm đem đi cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở các phương khác mà vẫn kịp trở lại giờ thọ trai, xong rồi đi kinh hành. Để xem Phật A Di Đà đã thành tựu công đức trang nghiêm như thế nào. Thật lạ lùng, các giống chim ở Quốc Độ này cũng biết niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Hành trang mà tôi mang theo chỉ một bộ Kinh Bát Nhã. Khi nào thấy lòng xao xuyến, lo âu, tôi lại niệm Lục Tự Di Đà. Tôi không còn lo sợ chi cả.
Tôi còn muốn lang thang vào thế giới của Thiền Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thai Thai Tông, Mật Tông, Duy Thức Tông… để xem tư tưởng của Phật Giáo phong phú đến mức nào. Tôi giống như một “Ông Tây ba-lô” lang thang khắp chốn để tận hưởng cái hay, cái lạ, cái ban sơ, cái dễ thương, cái rộng lớn của đời và của Thế Giới.
Bạn ơi!
Hãy lang thang. Hãy đến với cuộc sống của mọi người. Hãy mở bung trái tim mình. Hãy mở toang cánh cửa của tâm hồn. Khi đó chúng ta sẽ thấy những cái “hợm hĩnh” của cái “tôi” tan biến mất. Cuộc sống này thật đẹp, nhưng một mình ta không đủ làm đẹp cho đời. Đời đẹp vì có người. Có mình có ta.
Hãy lang thang để đến với mọi người bằng tâm hồn dản dị, cảm thông và chia xẻ. Đến với mọi người chúng ta không bao giờ bị “thua thiệt”. Chúng ta thật sự có “lời” vì tâm hồn chúng ta phong phú, trí tuệ chúng ta sáng suốt, tính tình chúng ta dễ dãi và lòng Từ Bi của chúng ta rộng mở.
Vậy thì bạn ơi!
Hãy đến với tất cả mọi người…và đến bằng tâm hồn trẻ thơ.
Đào Văn Bình (California Tháng 10, 2011)
Cuộc sống cuốn con người đi theo dòng đời hối hả, đôi khi, ta đánh mất mình bởi những giây phút vội vàng. 
Giữa đô thị ồn ào và phồn hoa, giữa nhịp sống náo nhiệt và vội vã, ta đi tìm riêng một khoảng lặng bình yên... Những con đường vào tiết trời se lạnh, rùng mình trong hơi sương mỏng mảnh. Hàng cây già nua trút lá, cố nép mình trong vạt nắng cuối mùa nhàn nhạt, giăng giữa lòng phố buồn tênh. Mùa đông đã đến từ lúc nào.
Đâu đó, nơi góc phố, người phụ nữ bán hàng rong nép mình vào ngôi nhà cao tầng tránh gió rét và hơi sương lạnh buốt. Đôi mắt nhắm hờ, khe khẽ bên vành nón úp ngược đặt trên thúng cam bán dở, trên khuôn mặt vẫn còn nỗi lo toan cơm áo gạo tiền, một giấc ngủ trưa vội vã giữa dòng người tấp nập... lặng yên!
song.jpg
Ở một con hẻm nhỏ, bóng dáng người thợ sửa xe đạp trở thành hình ảnh quen thuộc trong mắt mỗi người qua đây. Chỉ có một thùng đồ nghề nho nhỏ, không biết bác đã ngồi nơi đây, dưới gốc sấu già này bao nhiêu năm? Dáng người thô kệch, chiếc lưng hơi gù, bàn tay đen nhẻm lấm lem vết dầu, người thợ sửa xe đạp giản dị ấy chăm chỉ hàng ngày, cần mẫn với công việc của mình dù nắng mưa hay giá rét. Trên khuôn mặt gầy guộc in hằn những vết nhăn của thời gian, nguyên vẹn nụ cười và ánh mắt thật hiền lành, dễ mến.
Một cuốn sách nào đó từng viết: "Khi ra đường, nếu nhìn thấy một người công nhân, trên áo, trên tay, trên mặt lấm lem những vết bụi bặm, vôi vữa, sơn dầu... bạn đừng nghĩ đó là vết bẩn mà hãy nghĩ đó là dấu vết của lao động, của sự chăm chỉ và cần cù, những dấu vết ấy bao giờ cũng đáng được tôn trọng". Từng nhìn rất nhiều "dấu vết" từ khi thơ bé của những người thân xung quanh mình nhưng vô tình ta lãng quên và đôi lúc vẫn thốt lên những lời nói khó chịu, kèm theo cái nhăn mặt tức giận khi lỡ rây một vết bẩn nào đó trên áo ta. Có khi nào ta chợt nhận ra, ta từng quên...
Ừ thì... đôi lúc, ta chợt bỏ quên ánh nhìn sau nếp nhăn in hằn dấu vết tuổi già của ông lão bán than đầu ngõ, ánh mắt khắc khổ như cầu ơn của cụ bà bán rong ven đường, cái nhìn đăm chiêu của đứa bé đánh giày trong công viên buổi sáng sớm, llời mời chào của cô hàng quà vẫn đi qua nhà mỗi chiều... Ta bỏ quên những thứ ấy, đến với những thứ sạch sẽ, bóng loáng và giả tạo.
Đôi khi, ta nhìn cuộc sống của những con người ấy tầm thường, vô vị như bao công việc lao động chân tay khác nhưng đôi lúc, ta trở mình và bất giác nhận ra có một góc bình yên trên những khuôn mặt ấy. Đó là nụ cười hồn nhiên, không vương vấn chút ưu tư, phiền muộn. Ánh mắt ấy chân thật ấm áp và đôi lúc ta tự hỏi mình: "Đã khi nào ta bình yên như thế? Sống và tồn tại?". Đã bao giờ ta hỏi: "Liệu ta sống hay chỉ là đang tồn tại?".
Theo Ngôi Sao
Trong số tất cả những thứ mà chúng ta sử dụng không hợp lý và lạm dụng thì thời gian là thứ đáng kể nhất. Thời gian là cuộc sống, chúng ta lãng phí thời gian thì sẽ gây nguy hiểm cho bản thân. Giết thời gian có nghĩa là chúng ta đang giảm dần mạng sống của chính mình.

Hầu như tất cả mọi người đều than phiền là họ không có đủ thời gian. Nhưng tất cả thời gian đã tiêu tốn vào đâu? Tại sao những công cụ tiết kiệm sức lao động và các phương tiện đi lại, truyền thông nhanh hơn của nhân loại không giải phóng chúng ta? Hoặc ít nhất là cung cấp cho chúng ta khoảng thời gian rảnh rỗi để thực hiện những điều mà chúng ta muốn và cần phải làm, hoặc chỉ đơn giản là làm chậm lại và tận hưởng những gì chúng ta đã làm việc rất khó khăn để tạo ra chúng, tại sao lại không được? 

Thực ra, không phải chúng ta thiếu thời gian, mà là thiếu sự tập trung, sự tỉnh giác và không biết thiết lập tính ưu tiên. Chúng ta phải thay đổi không gian trong nhịp sống của mình - đánh thức mình bằng cách chuyển sang một cách tồn tại khác. Chúng ta có tất cả các thời gian trên thế giới. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, tùy vào cách chúng ta chọn để sử dụng nó ra sao.
69024105_1977277f07_z.jpg
Tạo ra không gian trong nhịp sống của mình

Chánh niệm là nhân tố cốt lõi trên con đường đưa đến sự giác ngộ, tỉnh thức của Đức Phật. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đề cao bản thân hoặc là sự thoái lui trước sự tự ý thức của một thiếu niên về câu hỏi “Với tôi thì sao?”; mà là sự nhớ đến việc ghi nhớ và luôn sống trong sự ý thức về những gì chúng ta thật sự đang làm ngay trong giây phút này.

Căn bệnh thời gian (time-sickness) là một căn bệnh phổ biến hiện nay. Mọi người nói rằng họ muốn sống chậm lại, muốn sống hài hòa với thiên nhiên hơn và muốn sống khỏe, sống một cách lành mạnh. Nhưng ai là người biết cách để thực sự sống được như thế? Ai có sẵn liều thuốc thời gian (time-medicine), và ai là người đã sẵn sàng, sẵn lòng và có thể sống như thế? 

Sự tỉnh thức là nhân tố thiết yếu trong cuộc hành trình tuyệt vời này, nó sẽ đem đến cho chúng ta một bức tranh lớn hơn, cũng như những chi tiết trong từng phút giây trên lộ trình ấy.

Nắm giữ bản thân trước khi những thứ khác nắm giữ ta

Annie Dillard đã viết: “Cách chúng ta sử dụng thời gian trong ngày chính là cách chúng ta sống trong cuộc đời”. Sự lựa chọn là hoàn toàn tùy thuộc ở ta. Chúng ta có thể học cách nắm giữ bản thân trước khi những thứ khác nắm giữ và trói buộc ta. Hãy cố gắng thực tập chánh niệm - nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng một cách có ý thức và không hề đánh giá, phê phán - đối với mọi thứ ta làm, ta nói và ta suy nghĩ trước khi ta phản ứng một cách mù quáng. 

Nói cách khác, hãy tạm dừng lại và xem xét. Bạn có thực sự muốn chơi trò chơi Angry Birds (một trò chơi điện tử trên máy vi tính), hoặc là chơi đùa với các con trong năm phút? Bạn có thực sự xem chiếu lại của một chương trình truyền hình hay mà không phải là lần đầu tiên xem, hoặc dành một nửa giờ đồng hồ để thực tập thiền? Vùi đầu vào mạng internet, hoặc gối đầu trên gối và có được một giấc ngủ ngon? Với chỉ một khoảnh khắc của sự chú ý sáng suốt, chúng ta có thể nâng cao chất lượng sống trong mỗi phút, mỗi giờ, và cuối cùng là toàn bộ cuộc sống của chúng ta.

Định hình lại ý thức của mình

Đôi khi chỉ cần sự định hình lại quan điểm, ý nghĩ của chúng ta một cách đơn giản là đã có thể làm thay đổi cuộc sống của ta. Tôi nhớ rõ rằng, khi tôi có ý thức và tập trung chuyển đổi công việc thật là chán phèo, dắt chó đi dạo hai lần một ngày, thành một khoảng thời gian đáng sống, và thế là nó đã trở thành khoảng thời gian tốt đẹp nhất trong ngày của tôi. 

Con chó Lili lông vàng, người bạn đồng hành trung thành của tôi đã giúp tôi định hình lại việc dắt chó đi bộ như là việc thiền hành. Tôi có thể chan hòa với thiên nhiên, hòa mình vào thế giới, chan hòa với những người hàng xóm của tôi, và với bản thân tôi, phát triển một thái độ bao dung hơn, và thậm chí là có được một bài tập thể dục nhẹ. Tất cả những thứ đó chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ trong ý thức và quan điểm của ta mà thôi. 

Tôi gọi điều này là “định hình lại ý thức”. Đấy là một việc làm khá dễ dàng, thoải mái và cực kỳ bổ ích.

Làm chủ cơn giận một cách có chánh niệm

Học để biết sử dụng cái mà tôi gọi là “cái nêm của sự tỉnh giác”. Đưa sự tỉnh thức của ta vào giữa những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình - những kích thích bên ngoài - và sự phản ứng bên trong của ta. Nếu có ai đó làm cản trở bạn trong lúc đi đường, hãy dừng lại một cách có ý thức và để cho nó qua đi, đừng bám víu vào cơn thịnh nộ khi bạn lái xe và đừng để cho hành động của người khác đánh cắp thời gian của bạn. 

Đây là sự thực tập đơn giản về sự không chấp thủ - nó giống như việc quay trở về với hơi thở một lần nữa, một lần nữa và một lần nữa trong thiền định - có thể rất là hữu ích, bởi vì nó giải thoát chúng ta khỏi sự tức giận, hối tiếc và cảm giác tội lỗi, và cuối cùng là giải phóng thời gian của chúng ta. Đấy chính là trọng tâm của điều mà tôi gọi là “làm chủ cơn giận một cách có chánh niệm”, và có thể được áp dụng để ứng xử với bất kỳ loại cảm xúc nào.

Tự hỏi: Liệu nó có xứng đáng để tôi dành thời gian không?

Đây là một câu hỏi đơn giản, nhưng tự hỏi như thế sẽ giúp ta chuyển đổi thời gian bị lãng phí thành thời gian được sử dụng một cách hữu ích. Tại sao chúng ta không tiết kiệm và đầu tư thời gian một cách cẩn thận như chúng ta đã làm đối với tiền bạc, vì thời gian có giá trị hơn và không thể thay thế được? 

Thay vì thế, chúng ta thường cho thời gian trôi qua. Chúng ta phí phạm, lãng phí và giết chết nó. Tất cả chúng ta đều làm tốt trong việc xem xét sự cân bằng giữa nhu cầu thực tế của mình và sự tham lam, niềm đam mê. Chúng ta có thường trả lời ‘vâng’ đối với những thứ mà chúng ta không muốn không? Thay vì nói ‘vâng’ với chính mình, chúng ta nói ‘không’ một cách khéo léo đối với những nhu cầu và những mong muốn vô lý.
 
Thời gian là thứ mà chúng ta tạo ra. Thời gian của ta là thuộc của riêng ta. Việc xem vô tuyến hay lướt net hàng giờ có thực sự làm cho ta hạnh phúc hơn hay tốt hơn không? Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều thông tin, nhưng biết về thế giới và người khác chỉ là kiến ​​thức, biết về chính mình mới là trí tuệ. Hãy quán xét và tìm hiểu sâu hơn.

Dùng thời gian để tạo ra thời gian

Tôi nhận thấy rằng tôi có thể có tất cả thời gian trên thế giới nếu và khi tôi tập trung và chú ý đến những thứ quan trọng nhất và thực sự cần phải được thực hiện, và duy trì sự tỉnh thức cao độ trong quá trình thực hiện. Cho nên khi người ta hỏi tôi, tôi thường khuyên họ dùng thời gian để tạo ra thời gian cho bản thân họ và cho những giá trị chân chính và những thứ ưu tiên của họ. Sự chủ định là tất cả mọi thứ: chú tâm một cách có chủ ý. Nên biết rõ ta đang ở đâu và nơi ta không trú ở - ở quá khứ và tương lai. 

Thời gian là một đầy tớ tuyệt vời, nhưng lại là một vị chủ tồi tệ, bạn phải dùng thời gian để tạo ra thời gian, bằng cách chú tâm tạo ra không gian trong nhịp sống của mình. Hoặc là ngay bây giờ hay là không bao giờ, luôn như thế. Ai có thể có đủ khả năng để chờ đợi? Tốt hơn chúng ta nên tỉnh thức đối với cuộc sống của mình, bằng cách tham gia một cách trọn vẹn vào những gì chúng ta đang làm ngay bây giờ, tỉnh giác đối với những lời nói, suy nghĩ và hành động của chúng ta. 

Sống một cách có chủ ý với sự tỉnh thức có thể là một điều khó khăn, nhưng lại là một sự khó khăn hữu ích. Quay trở về với lối sống chạy theo thói quen thì dễ dàng hơn nhiều. Thật là hữu ích nếu ta thực tập nhớ về sự ghi nhớ, nhớ lại những thứ ta đang làm trong khi ta đang thực sự tiến hành. Hãy dành ra một hơi thở để nghỉ ngơi nhằm làm tươi mới sự tỉnh thức đối với hiện tại, trở về với giây phút hiện tại và bắt đầu trở lại - tỉnh táo, sáng suốt, tập trung, bình tĩnh và tràn đầy sinh lực. 

Sử dụng các phương pháp tỉnh thức với giây phút hiện tại đã giúp tôi tỉnh giác và tìm thấy chính mình trong lĩnh vực thiêng liêng trong chuẩn mực thời gian của Đức Phật, hiện tại thiêng liêng, và nhiều hơn nữa mỗi ngày. Chúng cũng có thể giúp ích cho bạn, ngay bây giờ. Ai có thể có đủ khả năng để chờ đợi? 
Lama Surya Das - Minh Phú dịch  (Theo Huffington Post)
Đôi khi cũng nên để gió cuốn đi… những muộn phiền. Tôi nói với bạn như thế khi chiều nay nghe bạn thở than về những nỗi buồn sâu kín. Về đâu, khi nỗi buồn cứ lấn lướt những niềm vui, khi những yêu thương chợt xa, chợt quên một cách bất ngờ? Bạn hỏi mình và cũng là hỏi chính bạn.

Lại là tình yêu. Lại là những niềm tin, hi vọng bị vỡ vụn bởi những yêu thương mờ nhạt, hoặc vì những éo le của cuộc đời, hoàn cảnh đẩy đưa… Nhìn với con mắt phong trần, thịt da ta thấy điều đó, để chiêm nghiệm và ngộ ra: không ai mà không có những nỗi khổ niềm đau của riêng mình, bởi mình đã từng gieo đau khổ. Tất nhiên. Đương nhiên. Đó là lẽ đương nhiên. Tất cả để khẳng định cho một sự thật: gieo gì gặt nấy. Người gian dối sẽ gặp người gian dối, có một bài hát đã có một câu như thế, thật thà, rõ ràng, không gì phải chối cãi.
 
Đọc lại một bài viết của một bạn viết, dù bạn ấy gọi mình là… chú. Bạn ngẫm, nghĩ và viết nhiều điều hay lắm. Đọc nhức mình dữ lắm. Không phải là nhức vì khó chịu mà là vì tâm đắc. Người ta luôn mong muốn mình hạnh phúc tràn đầy nhưng người ta lại ganh ghét với những niềm hạnh phúc của người khác! Lạ. Người ta luôn muốn được nhận những lời khen nhưng chưa bao giờ người ta khen một người nào. Lạ. Người ta muốn có một người yêu chân thành, một tình yêu đẹp nhưng đến với ai người ta cũng toan tính, nhìn ngó thiệt hơn, so đo và cứ “đứng núi này trông núi nọ”. Lạ…
Vv và v.v những điều tưởng lạ nhưng thật chẳng lạ chút nào đối với cái chất ngược lại với thiên lương, với tự tánh thuần khiết trong con người chính là tam độc tham-sân-si bám rễ trong tâm thức từ vô thỉ kiếp. Nó là thứ rễ cái đục khoét tận đáy tâm hồn, ăn mòn những hạt giống lành tốt nơi vườn tâm mà nếu mình không nhận diện thì nó hoàn toàn có khả năng “giết chết” đời mình.
Một đời này, nếu mình không thấy được điều đó thì tháng ngày qua mình sẽ để thứ gió độc ấy cuốn đi và cuốn phăng hạnh phúc chân thật và giản dị của mình.
Đôi khi để gió cuốn đi, là để cho những nỗi muồn phiền thế gian, của hỉ - nộ - ái - ố thường tình có thể đi qua cánh cửa vô thường, sanh diệt, để nó rời xa bản thể vốn thanh tịnh nơi tâm mình. Thứ gió xuân ấy cần, còn những cơn gió độc ngang qua, ngỡ mát dịu nhưng đằng sau cơn mát là thứ độc có thể hạ gục mình bất cứ lúc nào. Lại thấy khó hiểu đó, nhưng lắng nghe sâu, ngồi yên một tí có khi sẽ thấy mình vừa ngồi giữa gió xuân.
Mấy hôm nay, đi lang thang, đi tìm những cung bậc xưa cũ, nhất là khi nghe giai điệu và âm ba của tiếng mưa đêm rơi lúc nhanh, lúc chậm. Ướt át và lạnh. Trong cơn mê ngủ vẫn thấy những bóng hình nhỏ thó, lam lũ, gầy hom hem, khô đét của những người không nhà nơi góc phố… Tự nhiên, mơ là họ sẽ không bị mưa ướt, sẽ không lạnh. Nhưng, cũng là mơ thôi, cơn mơ tưới tẩm cho lòng mình nở thêm một hạt giống mang tên tình thương. Nên nó không vô nghĩa!
Gió cuốn đi. Cuốn những cơn ngủ mê bên triền đời. Để ta bước qua những con dốc có nắng hanh hao, có gió thốc từ phía chân đời, thứ gió của mùa xuân bên hơi thở nhiệm mầu mà ta nhìn thấy qua một bức chân dung Bụt ngồi quay lưng lại. Bụt thở giùm ta một đôi hơi, như là khi Ngài ngồi nghe ta giãi bày: Bạch Đức Thế Tôn, có đôi khi con muốn khóc, có đôi khi con để gió cuốn đi, nhưng nhờ có Bụt ở trong con thỉnh chuông nhắc nhớ con quay về…
Chúc Thiệu
Có một người quăng một khúc cây xuống biển. Trên khúc cây ấy có một cái lỗ. Một ngọn gió từ phương Đông thổi nó trôi qua hướng Tây; một ngọn gió từ phương Tây thổi nó trôi qua hướng Đông. Và một ngọn gió từ phía Bắc thổi nó trôi qua phía Nam; một ngọn gió từ phía Nam thổi nó trôi qua phía Bắc. Cứ thế, khúc cây bị gió thổi trôi lênh đênh trên biển.

Trong biển lớn ấy có một con rùa mù. Một trăm năm rùa mù mới trồi đầu lên mặt nước một lần. Nhiều, rất nhiều lần của một trăm năm, rùa trồi lên để đút đầu vào đúng cái lỗ cây ấy!
Câu hỏi được đặt ra là: đến bao giờ thì rùa mù mới có thể làm được cái việc cực kỳ hy hữu ấy?
(Theo kinh Trung bộ, tập III, kinh Hiền ngu - Bàlapandita Sutta. HT. Thích Minh Châu Việt dịch)
rua33er.jpg
Ảnh minh họa
Bàn thêm:
Lỗ cây và con rùa mù là một ẩn dụ nổi tiếng bậc nhất trong kinh điển Phật giáo. Ẩn dụ này được Đức Phật ví cho cái sự khó của việc được sinh làm người, một khi bị rơi vào đọa xứ.
Các Tỷ kheo trả lời câu hỏi trên như sau: “Nếu có được chăng nữa, bạch Thế Tôn, thời chỉ được một lần, sau một thời gian rất lâu dài”.
Tuy vậy, Đức Phật dạy rằng: “Còn mau hơn, này các Tỷ kheo, con rùa mù ấy có thể chui cổ vào khúc cây có lỗ hổng kia; nhưng này các Tỷ kheo, ta tuyên bố rằng còn khó hơn được làm người trở lại, một khi người ngu bị rơi vào đọa xứ. Vì sao vậy? Vì ở đấy, này các Tỷ kheo, không có pháp hành, an tịnh hành, thiện hành, phước hành. Này các Tỷ kheo, ở đây chỉ có ăn lẫn nhau và ăn thịt kẻ yếu”.
Người ngu, theo lời Phật, là người: “tư duy ác tư duy, nói lời ác ngữ và hành các ác hạnh”, tức thân khẩu ý người ấy đi ngược với chánh đạo. Theo đó, một người thông minh, có tri thức, có địa vị… cũng có thể bị xem là người ngu, nếu người ấy không tư duy, hành xử và nói lời chân chánh!
Phật dạy: “Người ngu ấy, này các Tỷ kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại khổ ưu”. Ba loại khổ ấy là: 1. Khi nghe ai đó nói về những việc ác mình làm, như: sát sanh, lấy của không cho, theo tà hạnh trong dâm dục, nói láo, say rượu…, người ấy liền cảm thấy ưu khổ. 2. Cảm thấy khổ não, lo sợ khi thấy những kẻ có tội như mình bị pháp luật trừng phạt bằng các loại cực hình. 3. Khi đi đứng, lúc nằm ngồi, kẻ ấy thấy những việc ác mình làm như treo ép, đè nặng lên người, bị ám ảnh, lòng khổ sở khôn khuây.
Người ngu ấy khi chết sẽ bị rơi vào cõi dữ như địa ngục, súc sinh.
Ở đây, Đức Phật mô tả cảnh địa ngục là nơi có vô vàn sự khổ: “hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý”. Ví như một người bị trừng phạt, chịu ba trăm mũi giáo đâm vào người mỗi buổi sáng, trưa, chiều; sự khổ ở địa ngục còn ngàn vạn lần nhiều hơn thế nữa.
“… Này các Tỷ kheo, các người giữ địa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục…; khi thì nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ…”.
Hoặc người ngu ấy bị sinh vào các loài bàng sinh, phải ăn phân, ăn cỏ, ăn xác chết…; sinh ra trong chỗ hôi thối, bẩn thỉu, tăm tối và cũng chết đi trong chỗ bất tịnh, thực khó thể nào kể hết được những đọa đày, thống khổ.
Một khi bị rơi vào đọa xứ, người ngu rất khó để được sinh lại làm người, cũng giống như con rùa mù trăm năm một lần trồi lên và đút cổ vào lỗ cây nổi lênh đênh trên biển. Sau một thời gian lâu dài, người ngu đó nếu được sinh trở lại làm người, thì cũng sinh trong gia đình hèn kém, nghèo nàn, “không đủ để uống hay để ăn, cho đến miếng vải che lưng cũng khó tìm được. Lại nữa, người ấy thô xấu, khó nhìn, lùn thấp, hay bệnh, mù hay có tật, què hay bị bại, người ấy không có thể được các đồ ăn, đồ uống, vải xa, vòng hoa, hương liệu, giường nằm, chỗ trú xứ và ánh sáng”.
… Đọc ẩn dụ lỗ cây và con rùa mù, chúng ta thấy mình quá đỗi hạnh phúc và may mắn khi có được thân người - nhân thân nan đắc; và càng hạnh phúc hơn khi được học hỏi Chánh pháp - Phật pháp nan văn. Có được thân người, theo lời Phật dạy, là do chúng ta biết giữ gìn ngũ giới. Vậy mà phần đông chúng ta, dù mang được thân người, nhưng từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đều vô cùng bận rộn với cái ăn cái mặc, với những mối quan hệ, với những sự vui chơi giải trí, với những thứ hư danh phù phiếm và với những nỗi lo buồn, hỷ nộ ái ố… Khổ đau vì thế cũng đoanh vây trùng trùng.
Ta lấy cái nhân đau khổ này để giải quyết cái quả đau khổ kia, chẳng biết vui là nguyên nhân của khổ - bất tri lạc thị khổ nhân! Trong khi đó, “vô thường, già, bệnh, chẳng hẹn cùng ai! Sáng còn, chiều mất, chỉ trong sát na đã qua đời khác.
Ví như sương xuân, móc sớm, chốc lát thành không; như cây ven sông, giây leo thành giếng, há được lâu dài. Niệm niệm qua nhanh, chỉ trong chốc lát, hơi thở chợt tắt, đã ra đời sau… (Văn cảnh sách - Thiền sư Quy Sơn). Và cổ đức cũng nói: “Thiên niên thiết thọ khai hoa dị/ Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan” - (Ngàn năm cây sắt trổ hoa dễ/ Thân người mất đi được lại khó).
Bồ tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả - người ta cứ sợ, cứ trách cái khổ hiện tại mà không biết gieo trồng những hạt giống an lạc, hạnh phúc cho tương lai.
Phật dạy, trong sáu cõi, cõi người là nơi dễ tu tập nhất. Dễ, nhưng chúng ta phải kiên định vững chãi. Phải chọn con đường chuyển hóa đích thực và tinh tấn theo con đường ấy; lại phải biết khước từ, kiên quyết không tiếp tục gieo những hạt giống khổ đau. Ta mừng vui vì có được thân người. Mừng vui nhưng đừng như một kẻ tay bưng bát mật mà chuyển động chạy nhảy, chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu… (kinh Di giáo).
Cái hố sâu đọa xứ ấy, rơi xuống thì dễ mà bước lên thì khó, nói chi đến thành tựu đạo nghiệp, chấm dứt sinh tử luân hồi!
A Lan Nhã
Bài đăng cũ hơn Trang chủ
  • Recent Posts
  • Comments
Advertisement

Daily Video




Sám hối và hồi hướng

NAM MÔ SA BÀ GIÁO CHỦ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT - Mọi sai sót xin được sám hối.
- Nếu có chút công đức nào, xin hồi hướng cho tất cả những ai có duyên với Phật Pháp và cho tất cả chúng sinh, cầu cho họ được thân tâm an lạc, tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, ai chưa biết Phật Pháp sẽ biết, ai chưa tin sẽ tin, ai tin rồi tin sâu hơn, tâm Bồ Đề kiên cố, tu tập tinh tấn để sớm thoát khỏi sinh-tử luân hồi.

A Di Đà Phật

Photos on Flickr

Các Vị Vua Cha

Đức Ngọc Hoàng thượng đế (ngồi giữa),
Hai bên là hai quan hầu cận (thường là quan nam tào, bắc đẩu) .
Có nhiều nơi thờ tam phủ ba vua (ba vị vua cha) là ba vị vua ứng với tam phủ thiên ,địa ,thoải
1. Ngọc hoàng thượng đế ( thiên phủ),
2. Diêm vương ( địa phủ),
3. Bát hải long vương( thoải phủ) ,
Thông thường trong tam vị vua cha thì vua cha ngọc hoàng và vua bát hải là có ghi chú thích danh hiệu còn vị vua thứ ba thường để trống và không có chú thích gì.

Tam Toà Thánh Mẫu

Tam tòa Thánh Mẫu được coi là ba vị Thánh Mẫu quyền năng tối cao,tương ứng với tam phủ và tứ phủ
1. Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên ,Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa
2. Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh Công Chúa
3. Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa .
4. Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm Công Chúa

Mỗi người mỗi nước mỗi non
Đã về cửa mẹ như con một nhà...

Ngũ Vị Tôn Quan

1 - Quan lớn đệ nhất thượng thiên ( áo đỏ)
2- Quan Lớn đệ nhị Thượng ngàn ( áo xanh)
3 - Quan Lớn đệ tam thoải phủ ( áo Trắng)
4 - Quan lớn đệ Tứ Khâm Sai (áo vàng)
5 - Quan Lớn đệ Ngũ Tuần Tranh (áo xanh da trời đậm)

Thập Nhị Chầu bà

Tứ vị Thánh bà hay Tứ Vị Chầu Bà được coi là hóa thân phục vụ trực tiếp của Tứ Vị Thánh Mẫu . Tuy gọi là Tứ Vị Chầu Bà đại diện cho Tứ phủ , nhưng số lượng các vị thánh Chầu có thể tăng lên tới 12 ( 3x4 ) . Tuy nhiên trong số đó các Chầu bà từ Đệ Nhất tới Chầu Lục cùng Chầu bé thường hay giáng đồng , được biết đến rõ thần tích , có nơi thờ phụng riêng , còn các vị thánh khác ít giáng đồng và không mấy người biết tới .
1 - Chầu Đệ Nhất ( hóa thân thánh mẫu Thượng Thiên )( áo đỏ)
2 - Chầu Đệ Nhị ( bản tích )( áo xanh)
3 - Chầu Đệ Tam ( hóa thân Mẫu Thoải )( áo trắng)
4 - Chầu Đệ Tứ khâm sai Tứ phủ (áo vàng)
5 - Chầu Ngũ thờ ở Suối Lân , Lạng Sơn
6 - Chầu Lục
7 - Chầu Bảy
8 - Chầu Bát thờ ở Tiên La Thái Bình
9 - Chầu Cửu ( Cửu Huyền Thiên Nữ - Bỉm sơn - Thanh Hóa )
10 - Chầu Mười ở Mỏ Ba ( Đồng Mỏ - Chi Lăng )
11 - Chầu ở Lào Cai
12 - Chầu bé ở Bắc Lệ

Tứ Phủ Ông Hoàng

Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm: 01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
03- Ông Hoàng Đôi ( Quan Lớn triệu Tường )
04- Ông Hoàng Bơ ( banr tich )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát
10- Ông Chín Cờn
11- Ông Hoàng Mười ( Nghệ An )

Tứ phủ Thánh Cô

Tứ Phủ Tiên Cô là một hàng gồm các cô tiên nàng theo hầu cận các Thánh Mẫu ,Chúa Mường ,Chầu Bà .Các Tiên Cô đều là những cô gái đoan trang ,gương liệt nữ ,cũng có công với giang sơn xã tắc nên được nhân dân suy tôn và lập đền thờ phụng .Tứ Phủ Tiên Cô gồm:
1 - Cô Nhất Thượng Thiên
2 - Cô Đôi Thượng Ngàn
3 - Cô Bơ ( Đền Hàn Sơn )
3 - Cô Tư Ỷ La
5 - Cô Năm Suối Lân
6 - Cô Sáu Sơn Trang
7 - Cô Bảy Kim Giao
8 - Cô Tám Đồi Chè
9 - Cô Chín Đền Sòng Sơn
10 - Cô Mười mỏ ba
11 - Cô bé Thượng ngàn ( cô bé Đông Cuông /Cô Bé Suối Ngang ( Hữu lũng ) / Cô bé Đèo Kẻng ( Thất Khê ) / Cô Bé Tân An ( Lào cai ) / Cô bé Cây xanh ( Bắc Giang ) / Cô bé Nguyệt hồ ( Bắc Giang ) / Cô bé Minh Lương ( Tuyên Quang ) / Cô bé Cây xanh ( Tuyên Quang ) / cô bé Thác Bờ ( hòa Bình ) / Cô bé Thoải phủ

Tứ phủ Thánh cậu

Tứ phủ Thánh Cậu là những người chết trẻ , từ 1- 9 tuổi , hiển linh thành các bé Thánh . Người ta không biết rõ đầy đủ về 10 hay 12 vị thuộc hàng Cậu , họ là các phụ tá của các Ông Hoàng . Thường thì lần lên đồng nào cũng có giá Cậu bơ ( ba ) và Cậu bé . Đó là những giá đồng có tính cách phóng túng , nghịch ngợm , quần áo kỳ cục , lời nói ngọng ngịu của trẻ con , kèm theo các điệu múa lân hay múa hèo khá sôi nổi
Tứ phủ Thánh Cậu gồm có :
1. Cậu Hoàng Cả
2. Cậu Hoàng Đôi
3. Cậu Hoàng Bơ
4. Cậu Bé
- Cậu Bé Đồi Ngang ( Cậu Hoàng Quận )
- Cậu Bé Đồi Non
- Cậu Bé Cửa Đông
Ngoài ra ở mỗi bản đền lại có một cậu bé coi giữ gọi là cậu bé bản đền , trong đó thường hay ngự đồng như : Cậu Bé Phủ Bóng , Cậu Bé Đông Cuông ....

Trong Đạo mẫu Tứ phủ , đây đó người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều , một phủ thuần túy mang tính chất nhân thần . Bởi thế cần xem xét Đức Thành Trần cùng với các thuộc hạ của Ông trong hệ thống điện thần Tứ phủ cùng như trong thực hành tín ngưỡng Chư vị Trần Triều gồm :
1- Đức Thánh Ông Trần Triều ( Hưng Đạo Đại Vương )
2-Trần Quốc Tảng ( thờ Đền Cửa Ông - Quảng Ninh )
3 - Tướng Phạm Ngũ Lão ( con rể Trần Hưng Đạo / Thờ ở Đền Phủ Ủng )
4- Đệ Nhất Vương Cô ( Con gái lớn của Hưng Đạo Đại Vương )
5- Đệ Nhị Vương Cô ( Cô gái thứ )
6 - Ông Đệ Tam Cửa Suốt ( con trai thứ 3 của Hưng Đạo Đại Vương )
2012 Senhong. "Ở Đời Vui Đạo Hãy Tùy Duyên"